NGHỊ QUYẾT 214/NQ-CP VÀ CƠ CHẾ ĐỒNG HÀNH CÔNG-TƯ-DỮ LIỆU

Phóng viên: Với Nghị quyết 214/NQ-CP, việc thúc đẩy cơ chế doanh nghiệp công nghệ “đồng hành” cùng khu vực công có thể tạo ra thay đổi gì trong cách triển khai các dự án công nghệ? Tiến sĩ Trần Văn Khải: Tác động lớn nhất của Nghị quyết 214/NQ-CP là thay đổi phương thức triển khai các dự án công nghệ từ kiểu “cơ quan nhà nước tự làm-chia nhỏ-mua sắm phân tán” sang kiểu “thiết kế chung-chuẩn hóa chung-huy động doanh nghiệp đồng hành-triển khai theo kiến trúc dữ liệu thống nhất”.

Nghị quyết yêu cầu các bộ, ngành, địa phương phối hợp với Bộ Công an và các doanh nghiệp đồng hành để xây dựng chiến lược dữ liệu, chiến lược chuyển đổi số; rà soát toàn bộ hệ thống cơ sở dữ liệu; số hóa, chuẩn hóa, đồng bộ về Trung tâm dữ liệu quốc gia; đồng thời phối hợp với các tập đoàn, doanh nghiệp để đẩy nhanh các cơ sở dữ liệu đang xây dựng và ưu tiên hoàn thành các cơ sở dữ liệu phục vụ trực tiếp cải cách thủ tục hành chính, quyền lợi, nghĩa vụ thiết thực của người dân và doanh nghiệp.

Phụ lục kèm theo nghị quyết còn liệt kê danh mục 330 cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành, cùng danh sách doanh nghiệp đồng hành cho 23 nhóm cơ quan, từ bộ, ngành, cơ quan Đảng, Quốc hội Việt Nam, Mặt trận, đến Tòa án, Viện kiểm sát và địa phương. Điều đó cho thấy Nhà nước đang chuyển từ đặt mua sản phẩm rời rạc sang tổ chức một “hệ sinh thái triển khai” có cộng tác kỹ thuật, trách nhiệm rõ và chuẩn dùng chung.

Phóng viên: Từ góc độ thể chế, ông đánh giá thế nào về khả năng Nghị quyết 214/NQ-CP góp phần rút ngắn khoảng cách từ chính sách đến thực thi, đặc biệt trong bối cảnh yêu cầu về tốc độ và tính linh hoạt ngày càng cao?

Tiến sĩ Trần Văn Khải: Tôi đánh giá Nghị quyết 214/NQ-CP có tiềm năng rất lớn để rút ngắn khoảng cách từ chính sách tới thực thi, bởi văn bản này không dừng ở khẩu hiệu mà đã đi vào bốn “điểm chạm” thiết yếu của thi hành: kiến trúc, tiêu chuẩn, nguồn lực và trách nhiệm.

Nghị quyết yêu cầu hoàn thiện kiến trúc dữ liệu quốc gia, từ điển dữ liệu dùng chung, quy định kết nối-chia sẻ bắt buộc; gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả; xác định mốc thời gian rất ngắn cho từng hạng mục; đồng thời mở đường cho hình thức hợp tác công tư, cho cơ chế ưu tiên đặt hàng, chỉ định thầu đối với dự án dữ liệu và sản phẩm, dịch vụ chuyển đổi số trong phạm vi pháp luật cho phép. Đây chính là cách rút ngắn “độ trễ thể chế”.

Tuy nhiên, để nghị quyết thực sự phát huy hiệu lực, phải xử lý các điểm nghẽn mà OECD và World Bank nhiều lần lưu ý: phối hợp liên cơ quan còn yếu, thực thi chưa đồng đều, năng lực công vụ và động cơ thực thi còn là ràng buộc lớn. Nói cách khác, Nghị quyết 214/NQ-CP đã tạo ra một thiết kế tốt hơn cho thi hành; nhưng để thu hẹp khoảng cách chính sách-thực thi bền vững, nhất thiết phải có kỷ luật thời hạn, minh bạch dữ liệu, phân cấp đi đôi với kiểm tra và cơ chế bảo vệ người dám làm đúng pháp luật.

Tiến sĩ Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội.

TỪ CỞI TRÓI ĐẾN KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN

Phóng viên: Nhìn tổng thể từ các nghị quyết năm 1988 đến nay, theo ông, tư duy điều hành đã chuyển dịch như thế nào – từ “cởi trói” sang “kiến tạo phát triển”?

Tiến sĩ Trần Văn Khải: Nếu nhìn theo đường dài, có thể thấy rất rõ ba nấc chuyển. Nấc thứ nhất là “cởi trói”: tháo gỡ những ràng buộc tư duy và thể chế đang kìm hãm phát triển. Nghị quyết 13-NQ/TW năm 1988 là điển hình, khi mở hướng đối ngoại rộng mở để phá thế bao vây, giữ hòa bình cho phát triển kinh tế.

Nấc thứ hai là “mở đường và hợp thức hóa động lực mới”: kinh tế tư nhân được nhìn nhận ngày càng đầy đủ hơn, từ bộ phận cấu thành quan trọng đến một động lực quan trọng, rồi một động lực quan trọng nhất; hội nhập đi từ kinh tế sang toàn diện; công nghệ đi từ công cụ ứng dụng sang chiến lược quốc gia.

Nấc thứ ba là “kiến tạo phát triển”: Nhà nước không chỉ bỏ rào cản, mà chủ động thiết kế luật chơi, hạ tầng, dữ liệu, nền tảng và cơ chế huy động nguồn lực xã hội.

Đại hội XIV kết tinh rất rõ bước chuyển này khi xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; Nghị quyết 59 chuyển hội nhập từ “tiếp nhận” sang “đóng góp”; Nghị quyết 70 yêu cầu năng lượng đi trước một bước; Nghị quyết 79-NQ/TW yêu cầu kinh tế nhà nước phải tiên phong kiến tạo, mở đường, dẫn dắt; còn Nghị quyết 214/NQ-CP đưa tư duy đó vào hạ tầng dữ liệu và quy trình thi hành. Như vậy, “cởi trói” là điều kiện cần; “kiến tạo phát triển” mới là trạng thái quản trị trưởng thành hơn của thời kỳ mới.

Phóng viên: Theo ông, vai trò của chính sách – đặc biệt là các nghị quyết lớn – trong việc tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội hiện nay đang thay đổi ra sao?

Tiến sĩ Trần Văn Khải: Vai trò của chính sách hiện nay đang chuyển từ “cho phép phát triển” sang “tạo lập thị trường, định hình kỳ vọng và chia sẻ rủi ro phát triển”. Trong giai đoạn trước, thành công chính sách thường được đo bằng số rào cản được bỏ đi. Còn hiện nay, trong các lĩnh vực như bán dẫn, dữ liệu, AI, năng lượng, đổi mới sáng tạo, chỉ bỏ rào cản là chưa đủ; Nhà nước còn phải đặt chuẩn, tạo hạ tầng, mở đường vốn, đặt hàng đổi mới sáng tạo, khuyến khích hình thành doanh nghiệp chiến lược, điều phối giữa trung ương-địa phương-doanh nghiệp-viện trường.

Nghị quyết 57-NQ/TW là thí dụ điển hình khi đặt doanh nghiệp và người dân ở trung tâm nhưng xác định Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt; Nghị quyết 79-NQ/TW tiếp tục phát triển tư duy đó khi yêu cầu kinh tế nhà nước không bao cấp tràn lan mà phải kích hoạt, dẫn dắt nguồn lực xã hội; Nghị quyết 214/NQ-CP cụ thể hóa bằng cơ chế doanh nghiệp đồng hành, chuẩn dữ liệu dùng chung và ưu tiên đầu tư cho các cơ sở dữ liệu phục vụ thủ tục hành chính, quyền lợi thiết thân.

Theo đánh giá của World Bank, để đạt mục tiêu thu nhập cao, Việt Nam cần một “big push” về thể chế, gồm đầu tư công thông minh hơn, quy định rõ ràng hơn, công vụ có động lực hơn và chính quyền địa phương hiệu quả hơn. Điều đó có nghĩa là, trong giai đoạn hiện nay, chính sách phải vừa đúng hướng, vừa đủ lực, vừa đủ khả năng dẫn dắt thị trường.

ĐIỂM NGHẼN THỰC THI VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO GIAI ĐOẠN TỚI

Phóng viên: Từ thực tiễn, theo ông, vì sao nhiều nghị quyết được đánh giá là đúng và trúng nhưng khi triển khai lại gặp vướng mắc? Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở đâu?

Tiến sĩ Trần Văn Khải: Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất không còn nằm chủ yếu ở khâu nhận thức chiến lược, mà nằm ở chất lượng thể chế thực thi. Nói cách khác, ta ngày càng “nghĩ đúng” hơn, nhưng chưa phải lúc nào cũng “làm nhanh, làm trúng, làm đến cùng”.

Nghị quyết Đại hội XIV đã thẳng thắn nêu tình trạng công tác tổ chức thực hiện chưa bắt kịp yêu cầu phát triển bứt phá. Các nghiên cứu của OECD và World Bank cũng cùng một kết luận: quản lý, điều phối và thực thi là ràng buộc xuyên suốt; pháp luật và thủ tục hành chính còn là gánh nặng; áp dụng luật thiếu nhất quán; cấu trúc điều phối phức tạp; động lực công vụ và năng lực phân tích tác động chính sách còn hạn chế.

Trong lĩnh vực kinh tế tư nhân, World Bank chỉ ra rằng gần 2/3 startup coi quy định kinh doanh là một thách thức; năng suất khu vực tư nhân trong nước chỉ bằng khoảng một phần năm khu vực FDI. Trong lĩnh vực dữ liệu và số hóa, nếu không có chuẩn chung, không có cơ chế dùng chung và không có đầu mối chịu trách nhiệm cuối cùng, sẽ tái diễn tình trạng đầu tư phân tán, cơ sở dữ liệu cát cứ, làm chậm cả cải cách hành chính lẫn tăng trưởng. Vì vậy, “đúng và trúng” ở tầng chủ trương là rất cần, nhưng “đủ thực thi” mới là nơi quyết định thành bại.

Phóng viên: Từ các bài học quá khứ, ông có khuyến nghị gì để các nghị quyết trong giai đoạn tới – nhất là trong lĩnh vực công nghệ và đổi mới sáng tạo – vừa bảo đảm tính đột phá, vừa khả thi?

Tiến sĩ Trần Văn Khải: Tôi xin nhấn mạnh 6 khuyến nghị.

Một là, mọi nghị quyết lớn phải đi kèm ngay một “gói thể chế hóa” có thời hạn rõ: luật nào sửa, nghị định nào ban hành, cơ quan nào chịu trách nhiệm, nguồn lực nào đi theo.

Hai là, phải thiết kế nghị quyết theo logic đầu ra thay vì chỉ theo logic nhiệm vụ; tức là mỗi mục tiêu chiến lược phải quy về chỉ tiêu, dữ liệu đo lường và cơ chế giám sát công khai.

Ba là, trong lĩnh vực công nghệ, phải mạnh dạn dùng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, đặt hàng công nghệ, mua sắm công đổi mới sáng tạo và hợp tác công-tư, thay vì chỉ trông vào quy trình mua sắm thông thường.

Bốn là, phải có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm khi họ hành động đúng thẩm quyền, đúng quy trình, vì nếu sợ sai lấn át tinh thần hành động thì mọi nghị quyết đều dễ chậm.

Năm là, phải ưu tiên các ca sử dụng có tác động lớn, làm mẫu thành công trước rồi nhân rộng, thay vì trải đều nguồn lực.

Sáu là, cần coi dữ liệu và hạ tầng số công cộng là tài sản chiến lược quốc gia, như tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW, 79-NQ/TW và 214/NQ-CP. Khi thể chế đi trước, doanh nghiệp được huy động đúng vai, dữ liệu được chuẩn hóa và trách nhiệm được cá thể hóa, nghị quyết sẽ không chỉ “đúng và trúng”, mà còn “đến được đích”.

Nhìn một cách hệ thống, chuỗi nghị quyết từ Nghị quyết 13 năm 1988 đến Đại hội XIV, Nghị quyết 57-NQ/TW, 59-NQ/TW, 68-NQ/TW, 70-NQ/TW, 79-NQ/TW và Nghị quyết 214/NQ-CP cho thấy một trục vận động rất rõ của tư duy phát triển ở Việt Nam: từ phá bao vây để tồn tại và phát triển, sang giải phóng các động lực thị trường, rồi tiến tới kiến tạo mô hình tăng trưởng mới dựa trên thể chế hiện đại, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu và sự cộng hưởng giữa Nhà nước với doanh nghiệp. Trọng tâm của giai đoạn hiện nay không còn là tranh luận có nên đổi mới hay không, mà là làm sao để đổi mới đi vào đời sống với tốc độ nhanh hơn, quy mô lớn hơn và hiệu quả đo được.

Đó cũng chính là thông điệp xuyên suốt mà Đại hội XIV và các nghị quyết trụ cột gửi tới toàn hệ thống: muốn đi nhanh trong kỷ nguyên mới, phải nâng cấp đồng thời cả tư duy, thể chế, năng lực thực thi và hạ tầng phát triển.

Xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Trần Văn Khải!

Theo Nhân dân

Tin cùng chuyên mục